Trong âm lịch, tháng Giêng là tháng 1, tháng Một (hay tháng Mười Một) là tháng 11 và tháng Chạp là tháng 12; các tháng còn lại gọi theo số: tháng Hai, tháng Ba, tháng Tư, tháng Năm… đến tháng Mười. Ngày trong tháng thì mười ngày đầu gọi là mùng (hoặc mồng) Một đến mùng Mười, ngày 15 gọi là rằm, ngày cuối tháng là ngày 29 hoặc 30.
Những tên gọi này nghe quen nhưng hay gây nhầm, nhất là chữ "tháng Một": người miền Bắc lớn tuổi dùng nó cho tháng 11 âm lịch, trong khi nhiều người khác hiểu là tháng 1 dương lịch. Bài này đi qua từng tên tháng, tên ngày, các chữ Hán Việt như sóc, vọng, huyền, hối mà bạn gặp trong sách cũ, giải thích vài câu ca dao về tháng âm có cơ sở thiên văn, và gợi ý cách ghi ngày để không ai hiểu sai.
Mười hai tháng âm lịch và cách gọi
Bảng dưới liệt kê tên các tháng âm lịch, cách gọi khác bạn có thể gặp và khoảng thời gian tương ứng trên dương lịch. Khoảng dương lịch chỉ là gần đúng, xê dịch theo năm và lùi muộn sau tháng nhuận.
| Tháng âm | Tên gọi thường dùng | Cách gọi khác | Rơi vào khoảng (dương lịch, gần đúng) |
|---|---|---|---|
| 1 | Tháng Giêng | Tháng Một ở một số nơi, ít dùng | Cuối tháng 1 đến tháng 3 |
| 2 đến 3 | Tháng Hai, tháng Ba | Tháng 2 đến tháng 4 | |
| 4 | Tháng Tư | Không gọi "tháng Bốn" | Tháng 4 đến tháng 6 |
| 5 đến 10 | Tháng Năm đến tháng Mười | Tháng 5 đến tháng 12 | |
| 11 | Tháng Mười Một | Tháng Một (miền Bắc) | Tháng 11 đến tháng 1 năm sau |
| 12 | Tháng Chạp | Tháng củ mật (dân gian) | Tháng 12 đến tháng 2 năm sau |
Vì sao tháng 1 gọi là Giêng và tháng 12 gọi là Chạp? Cách giải thích thường gặp là hai chữ này bắt nguồn từ âm Hán Việt cũ: "Giêng" từ chữ "chính" trong "chính nguyệt" (tháng đầu năm), "Chạp" từ chữ "lạp" trong "lạp nguyệt" (tháng cuối năm). Đây là giải thích phổ biến trong giới nghiên cứu từ nguyên; bạn có thể gặp những cách diễn giải khác.
Chữ "tháng Một" và những chỗ dễ hiểu sai
Tháng Một âm lịch là tháng 11. Ở miền Bắc, người lớn tuổi gọi tháng 11 âm lịch là tháng Một, đọc tắt từ "Mười Một". Câu "tháng Một rét đậm" của ông bà là nói tháng 11 âm, quãng tháng 12 dương lịch.
Tháng Một dương lịch là tháng 1. Trong dương lịch, nhiều người gọi tháng 1 là tháng Một, có người gọi luôn là tháng Giêng. Khi nghe "tháng Một", bạn phải biết người nói đang dùng lịch nào.
Tháng Giêng cũng không an toàn. Một số người dùng "tháng Giêng" cho tháng 1 dương lịch. Đọc báo cũ, thư cũ, bạn cần xem ngữ cảnh: có nhắc Tết, mùa xuân hay không, có ghi năm âm hay không.
Cách ghi an toàn. Trong tin nhắn và giấy tờ, ghi số kèm chữ: "tháng 11 âm lịch", "ngày 5/3 âm lịch", hoặc viết tắt "ÂL". Kèm thêm ngày dương là chắc nhất.
Khi hỏi chatbot. Nếu hỏi "tháng Một là tháng mấy", chatbot có thể trả lời theo dương lịch. Hỏi rõ "tháng Một theo cách gọi âm lịch miền Bắc là tháng mấy" để có câu trả lời đúng ngữ cảnh.
Tên gọi ngày trong tháng âm
Mười ngày đầu tháng có chữ "mùng" hoặc "mồng" đứng trước: mùng Một, mùng Hai… mùng Mười. "Mồng" thường nghe ở miền Bắc, "mùng" phổ biến ở miền Nam, cả hai đều đúng. Từ ngày 11 trở đi không dùng chữ này nữa mà gọi thẳng: mười một, mười hai. Ngày 14 nhiều nơi gọi là "mười bốn", có nơi gọi "mười tư". Ngày 15 có tên riêng là rằm. Từ ngày 21, người miền Bắc hay nói "hăm mốt", "hăm hai", tức hai mươi mốt, hai mươi hai.
Người xưa còn chia tháng thành ba tuần, mỗi tuần mười ngày: thượng tuần từ mùng Một đến mùng Mười, trung tuần từ 11 đến 20, hạ tuần từ 21 đến cuối tháng. Chữ "tuần" ở đây không phải tuần lễ bảy ngày mà là mười ngày. Bạn vẫn gặp cách chia này trong văn bản hiện nay, như "trung tuần tháng Tám" để chỉ khoảng giữa tháng. Báo chí và văn bản hành chính cũng dùng cụm "thượng tuần", "hạ tuần" cho tháng dương lịch, nên khi đọc bạn xem kỹ đoạn văn đang nói về lịch nào trước khi quy đổi.
Ngày cuối tháng gọi là ngày ba mươi nếu tháng đủ, hai mươi chín nếu tháng thiếu. Chữ "ba mươi Tết" vì thế dùng cho ngày cuối năm âm lịch, kể cả những năm tháng Chạp thiếu và ngày cuối thật ra là ngày 29. Hiểu như vậy giúp bạn không hiểu lầm khi nghe ai nói "ba mươi Tết" vào một năm không có ngày 30.
Sóc, vọng, huyền, hối: bốn chữ trong sách cũ
Đọc sách cũ, văn bia, thơ văn, bạn sẽ gặp những chữ Hán Việt chỉ các ngày đặc biệt trong tháng âm. Đây là các chữ chính và nghĩa của chúng:
- Sóc: ngày mùng Một, ngày trăng mới. Trong thiên văn, điểm sóc là lúc mặt trăng nằm cùng phía với mặt trời.
- Vọng: ngày trăng tròn, thường là ngày rằm. "Sóc vọng" là cách nói gộp mùng Một và ngày rằm.
- Huyền: trăng nửa vầng như dây cung. Thượng huyền là nửa vầng đầu tháng, khoảng mùng 7, mùng 8; hạ huyền là nửa vầng cuối tháng, khoảng 22, 23.
- Hối: ngày cuối cùng của tháng âm, khi trăng gần như không còn thấy. "Hối" có nghĩa là tối.
- Nguyên tiêu: đêm rằm tháng Giêng, đêm trăng tròn đầu tiên của năm âm lịch.
- Trung thu: giữa mùa thu, chỉ rằm tháng Tám, vì tháng Bảy, Tám, Chín âm lịch được coi là ba tháng mùa thu.
Những chữ này không chỉ là từ cổ: lịch thiên văn hiện nay vẫn dùng khái niệm sóc, vọng, thượng huyền, hạ huyền với đúng nghĩa ấy.
Mùa theo tháng âm: mạnh, trọng, quý
Bốn mùa, mỗi mùa ba tháng. Theo cách chia truyền thống, mùa xuân gồm tháng Giêng, Hai, Ba; mùa hạ gồm tháng Tư, Năm, Sáu; mùa thu gồm tháng Bảy, Tám, Chín; mùa đông gồm tháng Mười, Mười Một, Chạp. Vì thế Tết là đầu xuân, Trung Thu là giữa thu.
Mỗi tháng trong mùa có tên riêng. Tháng đầu mùa gọi là mạnh, tháng giữa là trọng, tháng cuối là quý. Mạnh xuân là tháng Giêng, trọng xuân là tháng Hai, quý xuân là tháng Ba; tương tự với hạ, thu, đông. Những chữ này hay gặp trong thơ văn, câu đối và văn bản cũ, ghi kèm năm can chi.
Mùa theo âm lịch sớm hơn mùa thiên văn phương Tây. Trong cách chia phổ biến ở phương Tây, mùa xuân bắt đầu từ xuân phân, khoảng 20, 21 tháng 3. Trong cách chia Đông Á, mùa xuân bắt đầu từ khoảng tiết lập xuân đầu tháng 2, giữa mùa là xuân phân. Hai cách đều nhất quán, chỉ khác mốc.
Mùa theo lịch không phải thời tiết. Ở miền Nam chỉ có mùa mưa và mùa khô, ở miền Trung mùa mưa bão rơi vào thu đông. Tên mùa trong lịch là quy ước lịch pháp; thời tiết thực tế bạn theo bản tin dự báo.
Ca dao về tháng âm lịch: câu nào có cơ sở thiên văn
Câu "Tháng Năm chưa nằm đã sáng, tháng Mười chưa cười đã tối" là một quan sát rất chính xác. Tháng Năm âm lịch luôn chứa ngày hạ chí, ngày dài nhất năm ở Bắc bán cầu, nên đêm ngắn, vừa nằm xuống đã thấy trời sáng. Tháng Mười âm lịch nằm sát trước đông chí, khi ngày đã ngắn rõ rệt, chiều chưa kịp làm gì đã tối. Ở miền Bắc, chênh lệch độ dài ngày đêm giữa hai mùa rõ hơn hẳn ở miền Nam, nên câu này được cảm nhận mạnh nhất ở đó.
Câu "Tháng Giêng là tháng ăn chơi" phản ánh nhịp sống nhà nông ngày trước: đầu năm là quãng việc đồng áng tương đối thư thả, người ta có thời gian thăm hỏi, hội hè, còn những câu tiếp theo trong bài ca dao kể dần các việc trồng trọt của những tháng sau. Nó là câu chuyện về mùa vụ, gắn với lịch vì âm lịch được neo theo mặt trời và theo mùa.
Cụm "tháng củ mật" chỉ tháng Chạp, khi nhà nhà sắm Tết và kẻ gian cũng hoạt động nhiều, nên phải cẩn thận giữ của. Câu "tháng Bảy mưa ngâu" gắn với những trận mưa dầm ở miền Bắc vào quãng tháng Bảy âm lịch. Những câu này là kinh nghiệm dân gian, đúng ở mức xu hướng; thời tiết cụ thể của từng năm bạn theo dự báo chính thức. Phần tiết khí và kinh nghiệm nhà nông có danh mục riêng của trang.
Dùng AI tra nghĩa từ ngữ lịch trong văn bản cũ
Khi đọc thư, gia phả, văn bản cũ có ghi ngày âm, chatbot có thể giúp giải nghĩa từ, nhưng bạn nên làm theo trình tự để không bị dẫn sai.
- Chép đúng nguyên văn cụm từ cần hỏi, không tự sửa chính tả; ví dụ "ngày hối tháng Chạp" hay "hạ tuần tháng Một".
- Hỏi nghĩa và hỏi luôn mức độ chắc chắn: "Cụm từ sau trong văn bản cũ có nghĩa là gì? Nếu có nhiều cách hiểu, liệt kê từng cách và cho biết cách nào phổ biến hơn."
- Nếu cụm từ liên quan đến ngày cụ thể, tự quy đổi sang ngày dương bằng lịch, không để chatbot tự đổi khi chưa biết chắc năm.
- Với tên người, địa chỉ, chuyện riêng trong văn bản gia đình, che bớt trước khi dán vào chatbot; chỉ cần đoạn có từ ngữ lịch.
- Ghi lại câu trả lời kèm nguồn đối chiếu, như từ điển Hán Việt hoặc người lớn trong nhà, để người sau đọc không phải tra lại.
Nếu bạn đang tìm hiểu những chữ như can chi của năm trong văn bản cũ, phần đó có danh mục riêng; còn nếu muốn xem cách năm sinh âm lịch được dùng trong lá số như tư liệu văn hoá, có thể xem lá số miễn phí trên AI Huyền Học.
Câu hỏi thường gặp
Tháng Chạp là tháng mấy dương lịch?
Tháng Chạp là tháng 12 âm lịch, thường rơi vào khoảng giữa tháng 12 dương lịch đến khoảng giữa tháng 2 năm sau, tuỳ năm. Ngày cụ thể bạn tra lịch năm đó, vì vị trí tháng Chạp xê dịch theo thời điểm Tết.
Viết "mùng" hay "mồng" mới đúng?
Cả hai đều được dùng và được chấp nhận. "Mồng" phổ biến trong văn viết và ở miền Bắc, "mùng" phổ biến ở miền Nam và trong lời nói hằng ngày. Quan trọng là thống nhất trong cùng một văn bản.
Vì sao tháng Tư không gọi là tháng Bốn?
Đó là thói quen ngôn ngữ đã ổn định từ lâu, cả âm lịch lẫn dương lịch đều nói "tháng Tư". Tương tự, người ta nói "mười tư" bên cạnh "mười bốn". Chữ "tư" ở đây là một cách đọc khác của số bốn.
Rằm có phải lúc nào cũng là ngày 15 không?
Theo tên gọi, rằm là ngày 15 âm lịch. Nhưng trăng tròn thật có thể vào ngày 14 đến 17, nên trong lời nói dân gian đôi khi "rằm" được hiểu rộng là mấy đêm trăng tròn giữa tháng.
"Trung tuần tháng Tám" là ngày nào?
Trung tuần là mười ngày giữa tháng, từ ngày 11 đến ngày 20. "Trung tuần tháng Tám âm lịch" vì thế bao gồm cả rằm Trung Thu. Nếu văn bản là dương lịch thì hiểu là từ 11 đến 20 tháng 8 dương lịch.
Có nên dạy trẻ cách gọi tháng âm không?
Nên, ở mức nhận biết: tháng Giêng có Tết, tháng Tám có Trung Thu, tháng Chạp là cuối năm. Trẻ sẽ hiểu được câu chuyện của ông bà và ca dao, đồng thời biết phân biệt với tháng dương lịch ở trường.