AIXemNgay.comAI Xem Ngày
24 tiết khí và nông lịch

24 tiết khí là gì: cách chia năm theo vị trí mặt trời và vì sao ngày gần như cố định

Tiết khí là 24 mốc mặt trời đi qua trên hoàng đạo, mỗi mốc cách 15 độ. Hiểu cách tính để biết vì sao chúng gần như cố định trên lịch dương.

Early morning on a rice field in Thai Nguyen, a farmer seen from behind walking along a dyke as low sun rises over mist, long shadows across young rice

Tiết khí là 24 mốc trong năm, đánh dấu lúc mặt trời đi tới những vị trí cố định trên đường hoàng đạo, mỗi vị trí cách nhau 15 độ. Vì đo theo mặt trời chứ không theo mặt trăng, tiết khí gần như rơi đúng một ngày trên lịch dương năm nào cũng vậy, chỉ xê dịch chừng một ngày, trong khi trên lịch âm thì chúng trôi qua lại cả tháng.

Nhiều người vẫn nghĩ tiết khí là một phần của "lịch âm" vì thấy nó in cạnh ngày âm trên tờ lịch treo tường. Thật ra đây là phần dương trong lịch âm dương: phần giúp cuốn lịch theo kịp mùa. Bài này giải thích tiết khí từ gốc thiên văn, theo cách một người không học thiên văn vẫn tự kiểm được, và chỉ ra những chỗ hay hiểu nhầm khi đọc lịch hoặc khi hỏi chatbot.

Tiết khí là mốc của mặt trời, không phải của mặt trăng

Một năm của mặt trời là khoảng thời gian để mùa lặp lại: từ xuân sang hạ, thu, đông rồi trở về xuân. Người làm ruộng cần đúng nhịp này, vì lúa, ngô, rau màu sống theo nắng và nhiệt chứ không theo trăng tròn hay trăng khuyết. Trong khi đó tháng âm đi theo tuần trăng, dài khoảng 29,5 ngày, nên mười hai tháng âm ngắn hơn năm mặt trời chừng mười một ngày. Nếu chỉ nhìn tháng âm, ngày "mùng một tháng hai" năm nay có thể ấm hơn hẳn năm trước, và người nông dân không thể dựa vào đó để biết đã tới lúc gieo mạ hay chưa.

Tiết khí sinh ra để lấp chỗ hở đó. Người xưa chia vòng đi của mặt trời trong năm thành 24 đoạn đều nhau và đặt tên cho mỗi điểm chia. Khi mặt trời tới điểm nào, lịch ghi ngày ấy là ngày bắt đầu tiết khí tương ứng. Vì vậy tiết khí cho biết "đang ở đâu trong năm mặt trời", còn ngày âm cho biết "trăng đang ở pha nào". Một tờ lịch âm dương in cả hai để người dùng có đủ hai thông tin.

Cách hiểu này giúp tránh nhầm lẫn phổ biến nhất: coi tiết khí là "ngày âm". Ngày bắt đầu Lập xuân, Thanh minh hay Đông chí không gắn với một ngày âm nào cố định. Muốn biết tiết khí rơi vào ngày nào, phải nhìn lịch dương hoặc vị trí mặt trời, không phải đếm từ mùng một.

Hoàng đạo chia 24 phần, mỗi phần 15 độ

Hoàng đạo là đường mặt trời trông như đi qua trên nền trời trong một năm, nhìn từ Trái Đất. Người ta đánh số đường này từ 0 đến 360 độ, lấy điểm xuân phân làm 0 độ. Mỗi tiết khí ứng với một bội số của 15 độ, nên có đúng 24 mốc. Bảng dưới là bốn mốc làm trụ, mọi mốc khác nằm xen giữa chúng.

MốcKinh độ mặt trờiÝ nghĩa thiên vănThời điểm thường rơi
Xuân phân0 độMặt trời đi qua xích đạo trời, lên phía bắcKhoảng 20–21/3
Hạ chí90 độMặt trời lên cao nhất về phía bắcKhoảng 21/6
Thu phân180 độMặt trời đi qua xích đạo trời, xuống phía namKhoảng 22–23/9
Đông chí270 độMặt trời xuống thấp nhất về phía namKhoảng 21–22/12

Giữa xuân phân và hạ chí có năm mốc khác: Thanh minh ở 15 độ, Cốc vũ 30 độ, Lập hạ 45 độ, Tiểu mãn 60 độ, Mang chủng 75 độ. Cứ thế, mỗi quý của vòng hoàng đạo chứa sáu tiết khí. Nắm bốn mốc trụ trong bảng là bạn tự suy được thứ tự của cả 24 mà không cần thuộc lòng.

Một hệ quả thú vị: vì kinh độ đo từ xuân phân, nên Lập xuân, mốc mà lịch phương Đông coi là đầu năm nông lịch, lại nằm ở 315 độ, tức là khoảng sáu tuần trước xuân phân. Người phương Tây bắt đầu mùa xuân thiên văn ở xuân phân, còn lịch phương Đông bắt đầu từ Lập xuân. Hai cách đều đúng theo quy ước của mình.

Tiết và khí: hai loại mốc xen kẽ nhau

Mười hai "tiết" (còn gọi tiết khí đầu tháng). Đây là các mốc ở 15, 45, 75 độ… như Lập xuân, Kinh trập, Thanh minh, Lập hạ, Mang chủng, Tiểu thử, Lập thu, Bạch lộ, Hàn lộ, Lập đông, Đại tuyết, Tiểu hàn. Trong lịch pháp phương Đông, mỗi tiết mở đầu một "tháng tiết khí", và can chi của tháng trong một số hệ thống được tính theo các mốc này chứ không theo ngày mùng một.

Mười hai "khí" (gọi là trung khí). Đây là các mốc ở bội số của 30 độ: Vũ thuỷ, Xuân phân, Cốc vũ, Tiểu mãn, Hạ chí, Đại thử, Xử thử, Thu phân, Sương giáng, Tiểu tuyết, Đông chí, Đại hàn. Trung khí nằm ở giữa mỗi tháng tiết khí. Chính các trung khí là thứ lịch âm dương dùng để đặt tên tháng âm và quyết định tháng nào là tháng nhuận.

Gọi chung là "tiết khí". Trong đời thường, người ta gộp cả hai loại lại và nói "24 tiết khí". Khi đọc sách lịch pháp mới thấy phân biệt rõ tiết với khí. Bạn chỉ cần nhớ quy tắc: mốc chia hết cho 30 độ là trung khí, mốc lẻ 15 độ là tiết.

Vì sao phân biệt lại quan trọng. Khi một tháng âm không chứa trung khí nào, theo quy tắc của lịch âm dương hiện hành, tháng đó trở thành tháng nhuận. Đây là cầu nối giữa tiết khí và lịch âm. Phần quy tắc nhuận và các trường hợp đặc biệt được trình bày kỹ ở danh mục lịch âm dương của trang; ở đây chỉ cần hiểu rằng nếu không có tiết khí thì lịch âm không có cách nào biết khi nào phải chèn thêm một tháng.

Vì sao khoảng cách giữa hai tiết khí không đều nhau

Nếu chia năm mặt trời làm 24 phần bằng nhau theo thời gian, mỗi tiết khí sẽ dài khoảng 15,2 ngày. Cách chia này gọi là bình khí, từng được dùng trong lịch cổ. Nhưng Trái Đất đi quanh mặt trời theo quỹ đạo hơi dẹt: đầu tháng Một dương lịch nó ở gần mặt trời nhất và đi nhanh nhất, đầu tháng Bảy ở xa nhất và đi chậm nhất. Vì vậy để mặt trời trông như dịch thêm 15 độ, mùa đông chỉ cần khoảng 14 ngày rưỡi, còn mùa hè cần gần 15 ngày rưỡi đến 16 ngày.

Lịch âm dương dùng ở Việt Nam và các nước lân cận ngày nay theo cách định khí: lấy đúng thời điểm mặt trời tới mỗi mốc 15 độ, chấp nhận độ dài các tiết không đều. Cách này được đưa vào lịch chính thức từ thời nhà Thanh, cùng lúc với nhiều phương pháp thiên văn mới. Bạn tự kiểm được điều này bằng cách đếm trên lịch: từ Xuân phân đến Thu phân thường hơn 186 ngày, còn từ Thu phân quay về Xuân phân năm sau chỉ khoảng 179 ngày. Nửa năm mùa hè của Bắc bán cầu dài hơn nửa năm mùa đông chừng một tuần.

Đây cũng là lý do khi bạn hỏi chatbot "mỗi tiết khí kéo dài bao lâu" và nhận được câu trả lời "đúng 15 ngày", câu đó chỉ đúng gần đúng. Một câu trả lời cẩn thận phải nói rằng độ dài dao động từ khoảng 14,7 đến 15,7 ngày, ngắn vào mùa đông và dài vào mùa hè.

Vì sao tiết khí gần như cố định trên lịch dương mà trôi trên lịch âm

Lịch dương Gregory mà chúng ta dùng hằng ngày được thiết kế để bám năm mặt trời: năm thường 365 ngày, năm nhuận thêm một ngày vào tháng Hai, cộng với quy tắc bỏ nhuận ở các năm tròn thế kỷ không chia hết cho 400. Nhờ vậy xuân phân năm nào cũng rơi quanh 20 hoặc 21 tháng Ba. Tiết khí cũng bám năm mặt trời, nên hai thứ đi cùng nhịp. Lập xuân gần như luôn rơi vào 3, 4 hoặc 5 tháng Hai; Đông chí quanh 21 hoặc 22 tháng Mười Hai.

Sự xê dịch một ngày đến từ ba nguồn. Thứ nhất, năm mặt trời dài khoảng 365,24 ngày chứ không tròn 365, nên thời điểm tiết khí lùi dần khoảng sáu giờ mỗi năm rồi được kéo lại khi gặp năm nhuận. Thứ hai, thời điểm có thể rơi vào ban đêm, gần nửa đêm thì chỉ lệch vài phút đã sang ngày khác. Thứ ba, múi giờ: lịch Việt Nam tính theo giờ Việt Nam, lịch nước khác tính theo giờ của họ, nên cùng một khoảnh khắc thiên văn có thể ghi hai ngày khác nhau.

Trên lịch âm thì khác hẳn. Năm âm thường ngắn hơn năm mặt trời khoảng mười một ngày, nên năm sau Lập xuân rơi muộn hơn năm trước chừng mười một ngày tính theo ngày âm, cho tới khi gặp năm có tháng nhuận thì bị kéo lùi lại gần một tháng. Vì thế có năm Lập xuân rơi trước Tết Nguyên Đán, có năm rơi sau, có năm âm lịch chứa hai lần Lập xuân và có năm không chứa lần nào. Hiện tượng này hoàn toàn là hệ quả số học, không mang điềm báo gì.

Những hiểu lầm hay gặp khi đọc về tiết khí

Khi đọc bài trên mạng hoặc nghe giải thích, bạn sẽ gặp vài nhầm lẫn lặp đi lặp lại. Nhận ra chúng giúp bạn chọn nguồn đáng tin hơn.

  • "Tiết khí thuộc lịch âm." Sai về bản chất. Tiết khí là phần dương của lịch âm dương, tính theo mặt trời. Một cuốn lịch âm thuần tuý, chỉ đếm theo tuần trăng, thì không có tiết khí.
  • "Mỗi tiết khí dài đúng 15 ngày." Chỉ gần đúng. Theo cách định khí đang dùng, độ dài dao động theo mùa vì quỹ đạo Trái Đất là hình elip.
  • "Tiết khí cho biết thời tiết." Tiết khí là mốc thiên văn, cho biết đang ở giai đoạn nào trong năm. Trời nóng, lạnh, mưa hay nắng ở từng nơi phụ thuộc khí hậu vùng và diễn biến thời tiết, phải xem bản tin của cơ quan khí tượng.
  • "Tên tiết khí mô tả đúng khí hậu Việt Nam." Tên gọi hình thành ở vùng ôn đới phía bắc, nên Tiểu tuyết, Đại tuyết không có nghĩa là nước ta có tuyết. Người dùng lịch ở Việt Nam đọc tên như một nhãn thời gian.
  • "Ngày tiết khí in trên lịch là chính xác tới phút." Lịch in thường chỉ ghi ngày; nếu cần giờ, phải tra bảng thiên văn tính theo múi giờ Việt Nam.
  • "Hai cuốn lịch ghi khác ngày là một cuốn sai." Có thể cả hai đều đúng theo múi giờ mình dùng. Kiểm tra cuốn lịch tính theo giờ nào trước khi kết luận.

Những điểm trên đều tự kiểm được bằng phép tính đơn giản hoặc bằng cách đối chiếu hai nguồn lịch có ghi rõ múi giờ. Đó là thói quen nên có trước khi đưa thông tin tiết khí vào bài viết, lời chúc hay kế hoạch làm vườn.

Đọc tiết khí trên tờ lịch hôm nay

Trên lịch bloc hoặc lịch treo tường của Việt Nam, tiết khí thường xuất hiện ở hai chỗ. Chỗ thứ nhất là dòng nhỏ ghi tên tiết khí ở đúng ngày bắt đầu. Chỗ thứ hai, ở một số cuốn lịch, là dòng ghi "tiết" kèm tên tiết khí đang hiệu lực ở mọi ngày trong khoảng đó, ví dụ cả hai tuần sau Lập đông đều ghi "tiết Lập đông". Hai cách ghi này không mâu thuẫn: một cách đánh dấu ngày bắt đầu, một cách đánh dấu giai đoạn.

Trong ứng dụng lịch trên điện thoại, tiết khí có thể nằm trong phần thông tin chi tiết của ngày. Nếu ứng dụng cho chọn múi giờ hoặc "khu vực lịch", hãy chắc rằng nó tính theo giờ Việt Nam. Thao tác cụ thể thay đổi theo phiên bản, nên kiểm phần cài đặt của bản bạn đang dùng.

Khi muốn hiểu sâu hơn, bạn có thể hỏi một chatbot theo hướng giải thích thay vì xin kết luận, ví dụ: "Giải thích vì sao Đông chí năm nay rơi vào ngày đó theo giờ Việt Nam, nêu kinh độ mặt trời và cách tính, ghi rõ chỗ nào cần kiểm lại bằng bảng thiên văn." Câu trả lời tốt sẽ nhắc tới 270 độ và múi giờ. Nếu câu trả lời chỉ đưa một ngày mà không giải thích, hãy đối chiếu thêm với một cuốn lịch in có ghi rõ nguồn. Ai muốn đi tiếp từ lịch sang các phép tra cứu khác có thể xem lá số miễn phí trên AI Huyền Học, nhưng phần tiết khí thì chỉ cần thiên văn phổ thông là đủ.

Câu hỏi thường gặp

Tiết khí tính theo lịch âm hay lịch dương?

Tiết khí tính theo vị trí của mặt trời, tức là theo năm mặt trời, nên nó bám sát lịch dương. Trên lịch âm dương Việt Nam, tiết khí là phần giúp lịch âm theo kịp mùa, không phải một ngày âm cố định.

Một năm có bao nhiêu tiết khí và mỗi tiết khí dài bao lâu?

Một năm có 24 tiết khí, mỗi tiết khí ứng với 15 độ trên hoàng đạo. Độ dài dao động khoảng 14,7 đến 15,7 ngày, ngắn vào mùa đông khi Trái Đất đi nhanh gần mặt trời và dài vào mùa hè.

Trung khí khác tiết khí ở chỗ nào?

Trung khí là 12 mốc ở bội số của 30 độ như Xuân phân, Hạ chí, Đông chí; 12 mốc còn lại gọi là tiết. Trung khí được lịch âm dương dùng để xác định tháng nhuận, còn tiết dùng để mở đầu tháng tiết khí.

Vì sao tiết khí năm nay lệch một ngày so với năm ngoái?

Năm mặt trời dài khoảng 365,24 ngày nên thời điểm tiết khí lùi dần vài giờ mỗi năm rồi được kéo lại vào năm nhuận. Nếu thời điểm rơi gần nửa đêm, lệch vài giờ là đủ sang ngày khác, nên ngày ghi trên lịch xê dịch một ngày.

Có năm nào Lập xuân không rơi vào tháng Hai dương lịch không?

Trong thời đại hiện nay Lập xuân luôn rơi vào khoảng 3 đến 5 tháng Hai dương lịch. Điều thay đổi là ngày âm tương ứng, vì lịch âm trôi so với năm mặt trời, nên Lập xuân có thể đứng trước hoặc sau Tết Nguyên Đán.

Có cần thuộc lòng cả 24 tiết khí không?

Không cần. Nhớ bốn mốc trụ Xuân phân, Hạ chí, Thu phân, Đông chí và quy tắc mỗi mốc cách nhau 15 độ là đủ để suy ra thứ tự. Khi cần ngày chính xác thì tra lịch năm hiện hành tính theo giờ Việt Nam.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138