Một ngày đêm theo lối tính giờ cổ được chia thành 12 canh giờ, mỗi canh giờ dài hai tiếng đồng hồ và mang tên một địa chi: giờ Tý từ 23 giờ đến 1 giờ sáng, giờ Sửu từ 1 đến 3 giờ, giờ Dần từ 3 đến 5 giờ, cứ thế lần lượt tới giờ Hợi từ 21 đến 23 giờ. Giờ Ngọ rơi đúng khoảng giữa trưa, từ 11 đến 13 giờ, nên chữ "chính Ngọ" vẫn được dùng để chỉ 12 giờ trưa.
Bài này đưa bảng đổi đầy đủ, giải thích vì sao giờ Tý lại bắt đầu từ trước nửa đêm, phân biệt nửa "sơ" và nửa "chính" của mỗi canh giờ, chỉ cách nhẩm không cần bảng và những chỗ hay nhầm khi đổi giờ ghi trong gia phả, giấy tờ cũ hay lời kể của ông bà. Phần giờ hoàng đạo, tức giờ nào được lịch coi là tốt, có bài riêng trong cùng danh mục; ở đây chỉ bàn chuyện đo thời gian.
Bảng đổi 12 canh giờ sang giờ đồng hồ
Bảng dưới theo quy ước phổ biến trong lịch Việt Nam hiện nay, tính theo giờ chuẩn của Việt Nam. Cột cuối ghi lúc người xưa thường gắn với canh giờ đó trong sinh hoạt, để bạn dễ hình dung chứ không phải định nghĩa.
| Canh giờ | Giờ đồng hồ | Thường gắn với lúc |
|---|---|---|
| Tý | 23:00 – 0:59 | Nửa đêm, lúc ngủ sâu |
| Sửu | 1:00 – 2:59 | Gần sáng còn tối hẳn |
| Dần | 3:00 – 4:59 | Tờ mờ, người làm đồng dậy sớm |
| Mão | 5:00 – 6:59 | Rạng đông, mặt trời mọc |
| Thìn | 7:00 – 8:59 | Buổi sáng, bắt đầu công việc |
| Tỵ | 9:00 – 10:59 | Gần trưa |
| Ngọ | 11:00 – 12:59 | Giữa trưa, bóng nắng ngắn nhất |
| Mùi | 13:00 – 14:59 | Đầu giờ chiều |
| Thân | 15:00 – 16:59 | Chiều |
| Dậu | 17:00 – 18:59 | Chạng vạng, mặt trời lặn |
| Tuất | 19:00 – 20:59 | Đầu tối |
| Hợi | 21:00 – 22:59 | Khuya, chuẩn bị đi ngủ |
Cách viết "23:00 – 0:59" cố ý tránh kiểu ghi "23 – 1 giờ" quen thuộc, vì kiểu ghi gọn khiến nhiều người không chắc 1 giờ đúng thuộc giờ Tý hay giờ Sửu. Theo quy ước, mỗi canh giờ bắt đầu ở giờ lẻ và kết thúc ngay trước giờ lẻ kế tiếp: 1 giờ đúng đã là giờ Sửu, 7 giờ đúng đã là giờ Thìn.
Một lưu ý nữa: bảng này tính theo đồng hồ, không theo mặt trời thật. Ở Việt Nam, giữa trưa theo mặt trời có thể sớm hoặc muộn hơn 12 giờ đồng hồ vài phút tới hơn mười phút tuỳ nơi và tuỳ mùa. Với việc đổi giờ trong đời sống, chênh lệch ấy không đáng kể; bài về giờ mặt trời trong cùng danh mục bàn kỹ hơn.
Vì sao một canh giờ dài hai tiếng và giờ Tý bắt đầu từ 23 giờ
Hệ mười hai canh giờ lấy chính mười hai địa chi làm tên, cùng bộ chữ dùng để gọi năm và tháng trong lịch. Chia một ngày đêm làm mười hai phần bằng nhau thì mỗi phần dài gấp đôi một giờ đồng hồ hiện đại, vì đồng hồ chia ngày làm hai mươi bốn phần. Người châu Âu và người Á Đông đều chia ngày thành nhiều phần từ rất sớm, chỉ khác ở số phần và mốc bắt đầu; hệ hai mươi bốn giờ mà ta dùng hôm nay là chuẩn quốc tế phổ biến về sau.
Câu hỏi hay gặp nhất là vì sao giờ Tý không bắt đầu đúng lúc 0 giờ. Lý do nằm ở cách người xưa đặt mốc: nửa đêm, lúc mặt trời ở xa nhất phía dưới chân trời, được đặt vào chính giữa giờ Tý. Muốn nửa đêm nằm giữa một khoảng dài hai tiếng thì khoảng ấy phải bắt đầu từ một tiếng trước nửa đêm, tức 23 giờ, và kết thúc một tiếng sau, tức 1 giờ. Tương tự, giữa trưa nằm chính giữa giờ Ngọ, nên giờ Ngọ trải từ 11 đến 13 giờ.
Hệ quả trực tiếp là mọi canh giờ đều bắt đầu ở giờ lẻ. Ai đã quen điều này thì không cần thuộc bảng: chỉ cần nhớ giờ Ngọ quanh trưa và đếm lùi hoặc đếm tới mỗi bước hai tiếng. Hệ quả thứ hai, phức tạp hơn, là giờ Tý vắt qua nửa đêm, một nửa thuộc ngày dương lịch hôm trước, một nửa thuộc ngày hôm sau. Chuyện ngày mới bắt đầu từ 23 giờ hay từ 0 giờ có bài riêng trong danh mục, vì nó ảnh hưởng tới việc ghi ngày giỗ và ngày sinh.
Sơ và chính: nửa đầu và nửa sau của mỗi canh giờ
Mỗi canh giờ chia làm hai nửa. Theo lối gọi cũ, tiếng đầu của một canh giờ là "sơ", tiếng sau là "chính". Giờ Tý sơ là từ 23 đến 24 giờ, giờ Tý chính là từ 0 đến 1 giờ. Giờ Ngọ sơ là từ 11 đến 12 giờ, giờ Ngọ chính bắt đầu đúng 12 giờ trưa.
"Chính Ngọ" là lúc bắt đầu nửa sau, không phải cả giờ Ngọ. Khi người lớn tuổi nói "đúng chính Ngọ", ý họ thường là đúng giữa trưa, tức 12 giờ, lúc bóng người ngắn nhất. Hiểu như vậy khớp với cách chia sơ – chính: chữ "chính" đánh dấu thời điểm giữa canh giờ, đồng thời là đầu nửa sau.
Giấy tờ cũ đôi khi ghi rõ sơ hay chính. Một số gia phả, văn tự hay sổ sách ghi "giờ Dần sơ" hoặc "giờ Thân chính". Gặp cách ghi này, bạn đổi được chính xác tới từng giờ đồng hồ thay vì khoảng hai tiếng: Dần sơ là 3 đến 4 giờ sáng, Thân chính là 16 đến 17 giờ.
Đừng tự thêm sơ – chính khi nguồn không ghi. Nếu gia phả chỉ ghi "giờ Dậu", đừng ghi lại thành "Dậu chính" cho có vẻ chính xác. Khi chép sang sổ mới hay bảng tính, giữ nguyên chữ gốc và ghi kèm khoảng giờ đồng hồ "17 đến 19 giờ". Người đọc về sau sẽ biết đâu là thông tin gốc, đâu là phần quy đổi của bạn.
Cách nhẩm canh giờ không cần bảng
Bạn không cần học thuộc mười hai dòng. Ba bước dưới đây đủ để đổi qua lại trong đầu, kể cả khi đang nói chuyện điện thoại với người lớn trong nhà.
- Thuộc thứ tự mười hai chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Đây cũng là thứ tự mười hai con giáp mà hầu hết người Việt đã thuộc từ nhỏ.
- Neo hai mốc dễ nhớ: giờ Tý quanh nửa đêm, giờ Ngọ quanh giữa trưa. Hai mốc này cách nhau đúng sáu canh giờ, tức mười hai tiếng.
- Đổi giờ đồng hồ sang canh giờ: cộng 1 vào giờ đồng hồ, chia cho 2, lấy phần nguyên, rồi đếm từ Tý theo số đó (0 là Tý, 1 là Sửu…). Ví dụ 8 giờ sáng: 8 cộng 1 bằng 9, chia 2 được 4, đếm từ Tý tới vị trí thứ 4 là Thìn. Với 23 giờ: 24 chia 2 được 12, quay vòng về 0, tức giờ Tý.
- Đổi canh giờ sang giờ đồng hồ: lấy số thứ tự của chi (Tý là 0) nhân 2, trừ 1, đó là giờ bắt đầu. Giờ Thân là chi thứ 8: 8 nhân 2 trừ 1 bằng 15, nên giờ Thân bắt đầu lúc 15 giờ và kéo dài tới trước 17 giờ.
- Kiểm lại bằng cảm giác: kết quả phải hợp với lúc trong ngày. Giờ Dậu mà ra buổi sáng là đã đếm sai một vòng.
Phép nhẩm này cũng là cách tốt để bắt lỗi khi một ứng dụng hay chatbot đổi giờ sai, việc không hiếm, nhất là ở hai đầu giờ Tý.
Con giáp gắn với giờ: lối giải thích dân gian, đọc cho vui
Trong dân gian có nhiều câu giải thích vì sao giờ này mang tên con vật kia, thường dựa vào thói quen của con vật vào lúc ấy. Những câu này giúp nhớ bảng giờ, nhưng là lối giải thích về sau, không phải nguồn gốc của hệ đếm. Một vài ví dụ thường được kể:
- Giờ Tý: chuột hoạt động mạnh vào ban đêm, lúc nhà yên tiếng người.
- Giờ Sửu: trâu nhai lại, chuẩn bị cho ngày làm việc.
- Giờ Mão: người Việt gọi là giờ mèo; trong lối kể của Trung Quốc là thỏ ra khỏi hang lúc trời hửng.
- Giờ Ngọ: ngựa được cho là sung sức nhất khi nắng to.
- Giờ Dậu: gà lên chuồng lúc chạng vạng.
- Giờ Tuất: chó bắt đầu canh nhà khi trời tối.
Điểm đáng nhớ ở đây là con giáp của giờ chỉ là tên gọi, không mang tính cách gì cho người sinh vào giờ ấy. Những lời bàn kiểu "sinh giờ Hổ nên nóng nảy" thuộc về lối xem số, không có cơ sở khoa học, và chỗ của lá số theo giờ sinh là ở trang khác. Nếu bạn quan tâm lá số như một nét văn hoá, có thể xem lá số miễn phí trên AI Huyền Học (aihuyenhoc.com); còn ở đây, giờ Tý chỉ là khoảng từ 23 giờ tới trước 1 giờ.
Đổi giờ ghi trong gia phả, giấy tờ cũ và lời kể của ông bà
Nhu cầu đổi canh giờ hôm nay chủ yếu đến từ ba nguồn: gia phả ghi giờ sinh, giờ mất của các cụ; lời kể của ông bà như "mẹ sinh con lúc gà gáy giờ Dần"; và các bảng giờ trên lịch vạn niên. Với cả ba, cách làm an toàn là ghi song song: chữ gốc như "giờ Dần" và khoảng giờ đồng hồ "3 đến 5 giờ sáng". Đừng thay hẳn chữ gốc bằng một con số cụ thể như "4 giờ sáng", vì con số ấy là do bạn chọn chứ nguồn không nói.
Chỗ dễ sai nhất là giờ Tý và giờ sau nửa đêm. Một người mất vào "giờ Tý đêm mùng 5" có thể mất lúc 23 giờ ngày mùng 5 hoặc lúc 0 giờ 30 rạng sáng mùng 6 theo đồng hồ. Gia đình nhớ thế nào thì ghi thế ấy, kèm một dòng chú thích rằng giờ Tý vắt qua hai ngày. Nhờ dòng chú thích đó, khi con cháu đổi ngày giỗ sang dương lịch, họ biết phải hỏi lại chứ không tự đoán.
Chỗ dễ sai thứ hai là giờ ghi theo đồng hồ địa phương ở thời chưa dùng giờ chuẩn thống nhất. Những giấy tờ rất cũ có thể ghi theo giờ mặt trời của nơi đó hoặc theo múi giờ đã khác. Với việc ghi giỗ trong gia đình, sai lệch vài chục phút gần như không đổi được kết quả, trừ khi giờ rơi sát mốc 23 giờ hay 1 giờ. Khi gặp ca sát mốc, cứ ghi cả hai khả năng.
Nhờ AI đổi giờ và tự kiểm kết quả
Chatbot đổi canh giờ khá tốt vì đây là phép tra bảng đơn giản, nhưng vẫn có lúc trả lời "giờ Tý từ 0 giờ đến 2 giờ" do trộn lẫn với cách chia hiện đại, hoặc gán sai giờ ở hai đầu mốc. Bạn có thể hỏi theo mẫu: "Đổi các giờ sau sang canh giờ theo quy ước giờ Tý từ 23 giờ đến trước 1 giờ, mỗi canh giờ hai tiếng: 6 giờ 30, 13 giờ, 22 giờ 45. Ghi rõ cả phép tính." Câu lệnh đặt sẵn quy ước như vậy giúp máy khỏi tự chọn một cách chia khác.
Kiểm lại bằng phép nhẩm ở trên, hoặc so với bảng trong bài. Nếu bạn dán đoạn gia phả vào để nhờ đổi hàng loạt, nhớ che bớt tên đầy đủ, địa chỉ và các thông tin riêng của dòng họ không cần cho phép tính; máy chỉ cần chữ "giờ Dần", "giờ Hợi" là đủ làm việc. Kết quả quy đổi nên được một người trong nhà đọc lại trước khi chép vào sổ chung, vì sai một canh giờ ở mốc nửa đêm là sai luôn ngày.
Câu hỏi thường gặp
Giờ Tý là mấy giờ chính xác?
Giờ Tý là khoảng từ 23 giờ đến trước 1 giờ sáng theo giờ đồng hồ Việt Nam. Nửa đầu, từ 23 đến 24 giờ, gọi là Tý sơ; nửa sau, từ 0 đến 1 giờ, gọi là Tý chính. Vì vắt qua nửa đêm nên giờ Tý thuộc về hai ngày dương lịch.
1 giờ sáng đúng là giờ Tý hay giờ Sửu?
Theo quy ước phổ biến, 1 giờ đúng đã là giờ Sửu, vì mỗi canh giờ bắt đầu ở giờ lẻ và kết thúc ngay trước giờ lẻ kế tiếp. Nếu giấy tờ ghi sát mốc như vậy, nên chép kèm giờ đồng hồ gốc để người sau tự kiểm.
Giờ Ngọ là mấy giờ, có phải đúng 12 giờ trưa?
Giờ Ngọ kéo dài từ 11 giờ đến trước 13 giờ. Thời điểm 12 giờ trưa là "chính Ngọ", tức điểm giữa của giờ Ngọ. Khi người lớn tuổi nói "đúng Ngọ" thường là muốn nói 12 giờ trưa.
Vì sao có lịch ghi giờ Tý từ 0 đến 2 giờ?
Đó là cách chia lệch so với quy ước truyền thống, thường do người làm lịch hay chatbot chia đều 24 giờ từ 0 giờ cho tiện. Cách chia này làm mọi canh giờ trượt đi một tiếng. Khi thấy, bạn nên tra lại bằng một nguồn khác ghi giờ Tý từ 23 giờ.
Mười hai canh giờ có liên quan gì đến mười hai con giáp?
Cả hai dùng chung mười hai địa chi làm tên. Năm, tháng, ngày, giờ trong lịch đều được gọi bằng các chi này. Các câu giải thích giờ Dần là lúc hổ đi săn chỉ là lối kể dân gian giúp dễ nhớ, không phải nguồn gốc.
Ở nước ngoài thì giờ Tý tính theo giờ nào?
Nếu chỉ để hiểu khoảng thời gian trong ngày, bạn tính theo giờ địa phương nơi mình sống: giờ Tý vẫn là 23 giờ đến trước 1 giờ ở đó. Nếu cần đối chiếu với một sự kiện ghi theo giờ Việt Nam, hãy đổi múi giờ trước rồi mới đổi canh giờ.